Quy định mới về chứng nhận nguồn gốc và xuất khẩu thủy sản có hiệu lực từ ngày 19/9/2026

Thứ ba - 11/08/2026 03:08 4 0
Từ ngày 19/9/2026, quy định về chứng nhận thủy sản xuất khẩu, xác nhận nguồn gốc nguyên liệu khai thác và truy xuất nguồn gốc thủy sản sẽ có nhiều thay đổi đáng chú ý. Các quy định mới hướng tới tăng cường kiểm soát nguồn gốc nguyên liệu, đẩy mạnh số hóa hồ sơ và nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong toàn bộ chuỗi từ khai thác, thu mua, chế biến đến xuất khẩu.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa ban hành Thông tư Thông tư số 33/2026/TT-BNNM sửa đổi, bổ sung một số Thông tư trong lĩnh vực thủy sản. Trong đó, đáng chú ý là các nội dung sửa đổi Thông tư số 74/2025/TT-BNNMT về chứng nhận thủy sản, sản phẩm thủy sản xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ và Thông tư số 81/2025/TT-BNNMT về ghi, nộp báo cáo, nhật ký khai thác; công bố cảng cá chỉ định xác nhận nguồn gốc thủy sản từ khai thác; xác nhận nguyên liệu và chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác.

Phân định rõ hồ sơ theo nguồn gốc nguyên liệu
Một trong những điểm đáng chú ý của quy định mới là hồ sơ đề nghị cấp COA được phân định cụ thể theo nguồn gốc nguyên liệu.
Đối với nguyên liệu thủy sản khai thác trong nước để chế biến, xuất khẩu vào thị trường thuộc danh sách phải cấp COA, doanh nghiệp phải có đơn đề nghị cấp COA và một trong các giấy tờ chứng minh nguồn gốc nguyên liệu như giấy biên nhận sản phẩm bốc dỡ qua cảng, giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác hoặc Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác (Catch Certificate - CC).
Đối với nguyên liệu khai thác nhập khẩu, hồ sơ có thể bao gồm giấy chứng nhận của thuyền trưởng kèm giấy phép khai thác, COA do nước có tàu khai thác cấp hoặc Catch Certificate/Reported Catch do nước có tàu khai thác cấp. Giấy chứng nhận của thuyền trưởng phải thể hiện các thông tin cơ bản về tàu, quốc gia treo cờ, loại ngư cụ, thời gian và khu vực khai thác; thông tin nhận dạng tàu phải phù hợp với giấy phép khai thác.
Đối với nguyên liệu nuôi trồng thủy sản, quy định cũng phân biệt nguyên liệu nuôi trong nước và nguyên liệu nhập khẩu, với các loại giấy tờ chứng minh nguồn gốc và điều kiện của cơ sở nuôi tương ứng.
Quy định này cho thấy yêu cầu chứng minh nguồn gốc nguyên liệu ngày càng được cụ thể hóa theo từng mắt xích của chuỗi cung ứng, nhất là đối với những lô hàng xuất khẩu vào các thị trường có yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc.

Tăng cường kiểm soát nguồn nguyên liệu xuất khẩu vào Hoa Kỳ
Đối với thủy sản xuất khẩu vào Hoa Kỳ, cơ quan có thẩm quyền sẽ đối chiếu thông tin kê khai với hồ sơ nguồn gốc và phân loại nguyên liệu theo danh mục cấm nhập khẩu của Hoa Kỳ.
Trường hợp nguyên liệu không thuộc danh mục cấm nhập khẩu, hồ sơ được xem xét cấp COA theo quy định. Với nguyên liệu thuộc danh mục cấm, cơ quan có thẩm quyền tiếp tục thẩm định nguồn gốc, quốc gia, khu vực, loài và nghề/ngư cụ khai thác. Nếu các thông tin này trùng khớp với thông tin đã được Hoa Kỳ công bố trong danh mục cấm nhập khẩu thì không cấp COA.
Đây là nội dung có ý nghĩa trực tiếp đối với doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản. Việc kiểm soát nguồn nguyên liệu không còn dừng ở khâu hoàn thiện hồ sơ xuất khẩu mà đòi hỏi doanh nghiệp phải kiểm soát thông tin ngay từ quá trình thu mua, tiếp nhận và đưa nguyên liệu vào chế biến.

Doanh nghiệp phải lưu hồ sơ nguồn gốc tối thiểu 36 tháng
Theo quy định mới, tổ chức, cá nhân đề nghị cấp COA phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin kê khai, đồng thời lưu giữ đầy đủ hồ sơ, tài liệu và bằng chứng chứng minh nguồn gốc thủy sản trong thời hạn tối thiểu 36 tháng kể từ ngày được cấp COA.
Doanh nghiệp cũng phải thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc bảo đảm có thể theo dõi nguồn nguyên liệu và từng lô nguyên liệu trong các công đoạn tiếp nhận, bảo quản, chế biến và xuất khẩu. Hệ thống này phải bảo đảm khả năng đối chiếu giữa hồ sơ giám sát sản xuất với thực tế sản xuất, bảo quản và xuất khẩu.
Như vậy, yêu cầu truy xuất nguồn gốc được đặt ra theo hướng liên tục và xuyên suốt chuỗi, thay vì chỉ phục vụ cho một thủ tục chứng nhận riêng lẻ.

Siết chặt xác nhận sản phẩm có nguồn gốc khai thác
Thông tư cũng sửa đổi quy định về xác nhận sản phẩm thủy sản xuất khẩu được chế biến từ nguyên liệu khai thác và chứng nhận sản phẩm có nguồn gốc từ thủy sản khai thác nhập khẩu theo yêu cầu của cơ quan thẩm quyền nước nhập khẩu hoặc tổ chức nghề cá khu vực.
Hồ sơ phải có Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác do cơ quan có thẩm quyền của nước có tàu cá mang cờ cấp và giấy xác nhận hoặc chứng nhận tương ứng đối với sản phẩm xuất khẩu. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin cung cấp.
Cơ quan có thẩm quyền sẽ đối chiếu thông tin về tàu, quốc gia treo cờ, khối lượng và chủng loại thủy sản; đối với nguyên liệu nhập khẩu sẽ đối chiếu với thông tin về lô hàng đã được kiểm tra nguồn gốc; đối với nguyên liệu khai thác trong nước sẽ đối chiếu với giấy xác nhận nguyên liệu hoặc Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác. Đồng thời, dữ liệu về sản xuất, chế biến, theo dõi trừ lùi, định mức sản phẩm và khả năng truy xuất nguồn gốc cũng được xem xét.
Sau khi kết thúc kiểm tra hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền thực hiện xác nhận hoặc chứng nhận trong thời hạn 02 ngày làm việc; trường hợp có nghi ngờ và phải kiểm tra thực tế thì tối đa 03 ngày làm việc. Nếu không xác nhận hoặc chứng nhận, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Đẩy mạnh số hóa truy xuất nguồn gốc thủy sản
Một thay đổi quan trọng khác là lộ trình áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử.
Theo Thông tư, hệ thống điện tử đối với Giấy biên nhận sản phẩm thủy sản khai thác bốc dỡ áp dụng từ ngày 1/3/2026; đối với Giấy xác nhận nguyên liệu thủy sản khai thác áp dụng từ ngày 1/9/2026; và đối với Giấy chứng nhận nguồn gốc thủy sản khai thác áp dụng từ ngày 1/1/2027. Cơ quan có thẩm quyền chỉ cấp bản giấy trong trường hợp bất khả kháng hoặc theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân.
Đối với nhật ký khai thác, nhật ký thu mua và chuyển tải thủy sản điện tử, lộ trình áp dụng được xác định từ ngày 1/6/2027 đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 15 m trở lên và từ ngày 1/9/2027 đối với tàu cá có chiều dài lớn nhất từ 12 m trở lên. Trong thời gian chuyển tiếp, các tổ chức, cá nhân tiếp tục thực hiện theo quy định hiện hành.
Việc chuyển sang quản lý điện tử được kỳ vọng tạo nền tảng dữ liệu thống nhất hơn cho công tác kiểm soát nguồn gốc thủy sản, đồng thời đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu.

Doanh nghiệp, ngư dân cần chủ động chuẩn bị
Những thay đổi nêu trên đặt ra yêu cầu các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, cơ sở thu mua, chủ tàu và các tổ chức quản lý cảng cá cần chủ động rà soát lại quy trình quản lý nguyên liệu và hồ sơ nguồn gốc trước khi quy định mới có hiệu lực.
Đối với doanh nghiệp, trọng tâm là bảo đảm khả năng truy xuất từng lô nguyên liệu từ nguồn khai thác hoặc nuôi trồng đến sản phẩm xuất khẩu; thống nhất dữ liệu giữa hồ sơ thu mua, hồ sơ sản xuất và hồ sơ xuất khẩu; đồng thời lưu trữ đầy đủ các bằng chứng về nguồn gốc theo thời hạn quy định.
Đối với hoạt động khai thác, việc chuyển dần sang hệ thống điện tử đòi hỏi chủ tàu, thuyền trưởng, tổ chức quản lý cảng cá và các cơ quan liên quan phải chủ động thích ứng với phương thức quản lý mới, bảo đảm dữ liệu được cập nhật đầy đủ, chính xác và kịp thời.
Trong bối cảnh các thị trường xuất khẩu ngày càng coi trọng tính minh bạch của chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu về thủ tục mà đang trở thành một trong những điều kiện quan trọng để duy trì và mở rộng thị trường cho thủy sản Việt Nam.
Việc thực hiện nghiêm các quy định mới vì vậy không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước mà còn góp phần nâng cao tính minh bạch, trách nhiệm và uy tín của thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Tác giả bài viết: Văn phòng VinaFiS

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thông tin
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây