Gỡ "điểm nghẽn" con giống và mặt biển: Đòn bẩy cho nuôi biển Việt Nam bứt phá

Thứ tư - 16/09/2026 00:19 3 0
Dù đạt cột mốc xuất khẩu trên 1,2 tỷ USD, ngành nuôi biển Việt Nam vẫn đứng trước bài toán cấp bách về hạ tầng, nguồn giống phụ thuộc và hành lang pháp lý để chuyển đổi từ nuôi ven bờ nhỏ lẻ sang quy mô công nghiệp bền vững.
Thực tế ngành thủy sản Việt Nam đang đứng trước yêu cầu chuyển dịch mang tính bước ngoặt. Theo phân tích của TS. Phùng Đức Tiến, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, nguồn lợi hải sản tự nhiên hiện ngày càng hạn chế. Trong khi theo điều tra, trong khi trữ lượng trên toàn quốc chỉ đạt khoảng 3,9 triệu tấn thì sản lượng khai thác thực tế đã chạm ngưỡng 3,8 triệu tấn. Trước thực trạng này, việc giảm cường lực khai thác xa bờ và dịch chuyển mạnh sang phát triển nuôi biển theo tinh thần Nghị quyết 36-NQ/TW trở thành con đường bắt buộc.

Những số liệu thực tế giai đoạn 2021–2025 khẳng định nuôi biển đang thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới. Tốc độ tăng trưởng sản lượng đạt bình quân khoảng 8,4%/năm, đưa sản lượng năm 2025 đạt khoảng 859 nghìn tấn, vượt mục tiêu đề ra. Giá trị xuất khẩu từ nuôi biển vượt mốc 1,2 tỷ USD, trong đó tôm hùm – thế mạnh nổi bật của Ninh Thuận, Phú Yên, Khánh Hòa – đóng góp khoảng 854 triệu USD. Đã có nhiều tập đoàn lớn rót hàng trăm triệu USD đầu tư hệ thống lồng nuôi công nghệ cao tại Khánh Hòa, Quảng Ninh, Kiên Giang. Đối với rong biển, Việt Nam cũng đã tự chủ được nguồn giống và bắt đầu thu hút đầu tư quy mô lớn. Những kết quả này tạo cơ sở vững chắc cho mục tiêu đến năm 2030 đạt 1,4–1,5 triệu tấn sản phẩm và 1,82 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu.
Gỡ điểm nghẽn con giống và mặt biển Đòn bẩy cho nuôi biển Việt Nam bứt phá
TS. Phùng Đức Tiến, Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam.

Nhận diện chuỗi điểm nghẽn

Tuy nhiên, TS. Phùng Đức Tiến thẳng thắn chỉ ra rằng bức tranh nuôi biển vẫn tồn tại không ít hạn chế. Phần lớn hoạt động nuôi hiện nay vẫn mang tính nhỏ lẻ, ven bờ; lồng bè truyền thống bằng tre nứa chiếm ưu thế với mật độ dày, tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh và gây áp lực lên môi trường. Ở khâu khai thác, công nghệ bảo quản sau thu hoạch yếu kém khiến các chuyến biển kéo dài 15–20 ngày tổn thất sản lượng khi cập bờ lên tới 15–40%.

Bài toán nan giải nhất nằm ở tỷ lệ tự chủ con giống hiện mới đạt mức rất thấp, khoảng 5–7%. Việt Nam sở hữu nhiều đối tượng nuôi tiềm năng như cá hồng Mỹ, cá song chấm, cá chim vây vàng, tôm hùm, cua, ghẹ... nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn giống nhập khẩu. Mỗi năm, ngành thủy sản vẫn phải nhập khoảng 159.000 con giống tôm thẻ chân trắng. Với tôm hùm bông, quy định từ thị trường nhập khẩu yêu cầu sản phẩm phải nuôi từ giống F2, trong khi cả Việt Nam và phía đối tác đều chưa làm chủ hoàn toàn công nghệ sản xuất loại giống này. Dù gần đây đã xuất hiện những mô hình triển vọng – như việc doanh nghiệp thử nghiệm thành công nuôi cá nóc hổ của Nhật Bản sau 2 năm đạt 3kg/con, bán giá 1,3 triệu đồng/kg – thì việc làm chủ công nghệ sinh học để chủ động sản xuất giống cá biển vẫn là yêu cầu cấp thiết.

Tháo gỡ cơ chế pháp lý và làm chủ công nghệ thực chiến

Để nuôi biển bứt phá bền vững, TS. Phùng Đức Tiến cho rằng giải pháp căn cơ nằm ở việc hoàn thiện hành lang pháp lý và phát triển khoa học công nghệ.

Theo Ông, tương tự như người sản xuất nông nghiệp trên đất liền, ngư dân cũng cần được cấp quyền sử dụng mặt biển, để từ đó người dân và doanh nghiệp có cơ sở pháp lý rõ ràng, yên tâm đầu tư lâu dài và thế chấp vay vốn ngân hàng. Trước đây, quản lý bị phân tán khiến thủ tục giao mặt biển rất phức tạp, triển khai thiếu thống nhất giữa các địa phương, có thời điểm phải qua tới 6 bộ. Việc hợp nhất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với Bộ Tài nguyên và Môi trường thành Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang tạo điều kiện quan trọng để thống nhất quản lý. Dự thảo Luật sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (dự kiến trình Quốc hội vào tháng 10/2026) được kỳ vọng sẽ đơn giản hóa thủ tục, cho phép cấp, chuyển nhượng và cho thuê quyền sử dụng khu vực biển.

Nuôi biển vốn có rủi ro cao và chi phí lớn. Muốn thu hút nguồn lực xã hội, các nhà khoa học phải phát triển đồng bộ từ thiết bị lồng nuôi, công nghệ giống, thức ăn đến quy trình kỹ thuật. Công nghệ phải được nghiên cứu, kiểm chứng và chứng minh hiệu quả thực tế nhằm kiểm soát rủi ro.

Tiếp đó cần đầu tư tương ứng cho hạ tầng vùng nuôi (điện, nước, giao thông), khơi thông dòng vốn tín dụng ưu đãi, đồng thời thúc đẩy giải pháp chuyển đổi nghề cho ngư dân sang làm dịch vụ du lịch ven biển nhằm giảm áp lực khai thác tự nhiên và đảm bảo sinh kế lâu dài.

Tác giả bài viết: Văn phòng VinaFiS

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Thông tin
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây